VKSND tối cao vừa có Công văn 1476 về giải đáp thắc mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình.
Một trường hợp được nêu tại Công văn 1476 là “Di sản của ông/bà đã chết chưa chia thừa kế thì cháu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông/bà không trong trường hợp bố/mẹ cháu đã chết (tương tự, con dâu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của bố/mẹ chồng trong trường hợp người chồng đã chết không)?”
VKSND tối cao trả lời, Khoản 2 Điều 68, Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định cá nhân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đó.
Bố (mẹ) của cháu là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông/bà nội (ông/bà ngoại). Trường hợp bố (mẹ) của cháu chết trước ông (bà) thì cháu là người được hưởng thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật nên cháu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông (bà).
Trường hợp người chồng chết trước bố/mẹ chồng thì người con dâu không có quyền hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của bố/mẹ chồng nên người con dâu không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của bố/mẹ chồng, trừ trường hợp đại diện cho con chưa thành niên được hưởng thừa kế thế vị.
Ngược lại, trường hợp bố (mẹ) của cháu chết sau ông (bà) hoặc người chồng chết sau bố/mẹ chồng thì bố (mẹ) của cháu, người chồng vẫn là người có quyền hưởng di sản thừa kế từ ông (bà) hoặc bố/mẹ chồng đã chết.
Việc bố (mẹ) của cháu và người chồng đã chết không làm mất đi tư cách người thừa kế của họ (Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người thừa kế là cá nhân là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế).
Do đó, người cháu, người con dâu trong trường hợp này có quyền hưởng di sản của bố (mẹ) cháu, người chồng chính là phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng từ ông (bà), bố/mẹ chồng. Vì vậy, người cháu, người con dâu có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông (bà), bố/mẹ chồng để được hưởng phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng.
Một trường hợp khác, vợ chồng ông T, bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Năm 2011, ông T, bà P ly hôn. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn thể hiện ông T, bà P không có tài sản chung vợ chồng. Năm 2023, ông T chết, bà P khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Tòa án căn cứ quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P có đúng không?
VSKND tối cao trả lời câu hỏi trên như sau: trường hợp này, cần xem xét trong vụ việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa ông T và bà P vào năm 2011, các bên có yêu cầu gì về tài sản chung không và kết quả Toà án giải quyết yêu cầu đó (nếu có).
Nếu Quyết định công nhận thuận tình ly hôn ghi nội dung vợ chồng không có tài sản chung chỉ có ý nghĩa ghi nhận lời trình bày của các bên, thể hiện tại thời điểm ly hôn, ông T và bà P không có tài sản chung (không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng).
Đây chỉ là một trong những chứng cứ để Toà án xem xét khi giải quyết vụ án sau này. Việc Tòa án giải quyết vụ án sau chỉ căn cứ vào nội dung quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, bà P trước khi ly hôn không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P là không đúng, mà phải xem xét nguồn gốc, thời điểm hình thành tài sản, nếu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên 2 vợ chồng thì phải xác định đây là tài sản chung theo Điều 33, 34 Luật Hôn nhân và gia đình.
Trường hợp tiếp theo cần giải đáp, cùng loại vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, có vụ Tòa án tuyên “thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, có vụ Tòa án lại tuyên “hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Vậy cách tuyên nào là đúng?
VSKND tối cao cho rằng, Điều 15 Bộ luật Dân sự quy định “Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Toà án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền”.
Khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”.
Theo các quy định trên thì Toà án chỉ được tuyên “hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Giấy chứng nhận bị Toà án tuyên hủy thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi theo điểm đ khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024.
Điểm a khoản 3 Điều 152 Luật Đất đai quy định “Trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, trong đó có kết luận về việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp thì việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp được thực hiện theo bản án, quyết định đó”.
Nghĩa là, Toà án chỉ kết luận chứ không tuyên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà việc thu hồi giấy chứng nhận phải do cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thực hiện theo kết luận tại bản án.
×
Tin tức An ninh Xã hội tổng hợp mới nhất trong ngày








Leave a Reply